TS Nguyễn Quốc Thập: Sáu nhóm giải pháp phát triển điện khí LNG tại Việt Nam

Mới đây, tham luận tại Diễn đàn Hiện thực hóa mục tiêu phát triển điện khí LNG theo Quy hoạch điện VIII, TS Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam đã đưa ra 6 nhóm giải pháp phát triển điện khí LNG.
Sáu nhóm giải pháp phát triển điện khí LNG tại Việt Nam
TS Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam tham luận tại diễn đàn

Theo TS Nguyễn Quốc Thập, những ưu việt và sự cần thiết của điện khí LNG, cũng như thực trạng triển khai và những khó khăn thách thức của các dự án điện khí LNG đã được nhiều chuyên gia và các nhà quản lý phân tích đánh giá; Đồng thời cũng đã có nhiều các giải pháp được đề xuất và giới thiệu. Tuy nhiên, với trách nhiệm và tư cách của một tổ chức xã hội nghề nghiệp – Hội Dầu khí Việt Nam đề xuất 6 nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ các vướng mắc khó khăn trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu điện khí LNG trong Quy hoạch điện VIII, bao gồm:

Nhóm giải pháp thứ nhất: Mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ điện khí LNG theo sát với mục tiêu cung cấp khí điện LNG trong Quy hoạch điện VIII. Theo đó, xây dựng tập trung, đồng bộ các khu công nghiệp/nhà máy có quy mô tiêu thụ điện đủ lớn cùng với việc triển khai các dự án kho cảng và nhà máy điện khí LNG. Chính họ là các hộ tiêu thụ và là cơ sở quan trọng cam kết tiêu thụ điện (Qc) và khi đó, các cam kết trong Hợp đồng mua bán điện sẽ trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn. Đây cũng là chính sách giúp thu hút và khuyến khích các nhà đầu tư loại hình khu công nghiệp/nhà máy cam kết tiêu thụ điện dài hạn cùng với chuỗi nhà máy điện và kho cảng LNG. Thêm vào đó, chúng ta cần có thêm các chính sách kích cầu về điện, kích thích sản xuất và kích thích tiêu dùng song song với khuyến khích tiết kiệm điện.

Nhóm giải pháp thứ hai: Đó là sớm sửa đổi Luật Điện lực, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Thuế và các nghị định hướng dẫn liên quan. Trước tiên và quan trọng nhất đó là cần phải chấp nhận chuỗi kinh doanh khí điện LNG hoạt động theo cơ chế thị trường và các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ thực hiện việc giám sát, hậu kiểm mọi quá trình hoạt động của chuỗi. Tiếp đó, cho phép các chủ thể các nhà máy điện khí được quyền đàm phán bán điện một cách cạnh tranh giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các hộ tiêu thụ điện. Đồng thời cho phép các nhà máy điện được quyền mua trực tiếp LNG và thuê kho cảng tàng trữ và tái hóa khí của kho cảng LNG. Song song với quá trình đó cần bổ sung khung thuế và phí phát thải CO2 trong Luật Thuế và Luật Bảo vệ môi trường.

Nhóm giải pháp thứ ba: Cập nhật và sửa đổi Điều lệ và Quy chế tài chính của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) và EVN. Việc Chính phủ không còn trực tiếp đứng ra bảo lãnh các Hợp đồng mua bán khí và mua bán điện là một quyết sách đúng, tuy nhiên với khung pháp lý hiện tại, Petrovietnam và EVN không đủ cơ sở để thực hiện bảo lãnh thay thế. Do đó, cần phải cập nhật và sửa đổi Điều lệ và Quy chế tài chính (liên quan đến quyền cam kết và thế chấp tài sản hay dòng tiền) của hai tập đoàn đã và đang tham gia vào chuỗi các dự án điện khí LNG nói riêng và các chuỗi dự án lớn khác nói chung. Khi đó, nút thắt về bảo lãnh Chính phủ sẽ được tháo gỡ.

Nhóm giải pháp thứ tư: Chính phủ hoặc Ngân hành Nhà nước vẫn cần cam kết và bảo đảm về khối lượng chuyển đổi ngoại tệ/nội tệ và tỷ giá sẽ do thị trường quyết định. Nhà đầu tư sẽ hoàn toàn được thuyết phục nếu chúng ta chấp nhận cách tiếp cận này và nút thắt sẽ được tháo gỡ.

Nhóm giải pháp thứ năm: Đó là tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế sâu rộng sẽ giúp chúng ta có cơ hội để: Xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách năng lượng nói chung và điện khí LNG nói riêng; Xây dựng và hoàn thiện mô hình quản trị đầu tư xây dựng, vận hành, khai thác sử dụng hiệu quả tối ưu điện khí LNG; Lựa chọn được các nhà đầu tư có tiềm lực về công nghệ, tài chính và kinh nghiệm triển khai. Chúng tôi cho rằng, hợp tác quốc tế tốt và hiệu quả sẽ là một trong các điều kiện cần và đủ để hiện thực hóa các dự án khí điện LNG theo Quy hoạch điện VIII.

Nhóm giải pháp thứ sáu: Đó là thay đổi nhận thức và tư duy. Với một loại hình kinh doanh mới, chúng ta cần có cách tiếp cận mới, phù hợp và khả thi. Điện khí LNG không phải chỉ có nhà máy điện và kho cảng LNG, mà điện khí LNG cần được hấp thụ hay tiêu thụ bởi các hộ tiêu thụ điện công nghiệp đó là các khu công nghiệp hay các nhà máy chế biến và nói rộng hơn là nền kinh tế. Nhận thức về giá điện khí LNG cũng cần phải thay đổi và như đã đề cập ở trên, giá điện khí LNG bắt buộc phải theo cơ chế thị trường vì trọng số trong cấu thành giá điện khí LNG chủ yếu là giá LNG nhập khẩu.

Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam dẫn giải, “Muốn có giá LNG tốt thì chúng ta phải có các cam kết dài hạn, muốn cam kết mua và bán khí LNG dài hạn thì cũng phải có cam kết dài hạn từ nhà máy điện, rồi các nhà máy điện muốn cam kết được thì cũng phụ thuộc vào khách hàng của họ có cam kết mua điện dài hạn hay không? Bởi các nước nhập khẩu LNG và kinh doanh khí điện LNG đều đã thành công với những mức độ nhau và họ vẫn đang mở rộng quy mô. Các nhà đầu tư đầu cuối (tiêu thụ điện khí LNG) ở những nơi đó vẫn tiếp tục đầu tư, tạo thành một chuỗi giá trị và liên hoàn”.

“Chúng tôi cho rằng các cam kết dài hạn, hợp tác quốc tế và thị trường là những điều kiện tiên quyết hay điều kiện cần và đủ để hiện thực hóa các dự án khí điện theo Quy hoạch điện VIII và Quy hoạch năng lượng quốc gia”, TS Nguyễn Quốc Thập nhận định.