Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam 1975 - 1990 (Hình thành tổ chức và xác định phương thức triển khai hoạt động dầu khí)

Trưởng thành từ hậu chiến và trong bao vây, cấm vận (Kỳ 4)

2. Tổ chức bộ máy điều hành và triển khai hoạt động dầu khí

Nghị định số 170/CP của Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 3/9/1975 nêu rõ: “Tổng cục Dầu khí Việt Nam là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Hội đồng Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về toàn bộ tài nguyên dầu mỏ và khí đốt trong cả nước, kể cả trong đất liền và ngoài biển; tổ chức việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu mỏ và khí đốt trong cả nước (trừ phần hóa dầu do Tổng cục Hóa chất phụ trách); thực hiện việc hợp tác về dầu, khí với nước ngoài theo đúng đường lối, nguyên tắc về quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Tổng cục Dầu khí Việt Nam có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

(1) Nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ quyết định chủ trương, chính sách và quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt ở Việt Nam; tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách và quy hoạch ấy sau khi được Hội đồng Chính phủ xét duyệt.

(2) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với toàn bộ tài nguyên dầu mỏ và khí đốt; nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ xét duyệt các chương trình, kế hoạch về tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu mỏ và khí đốt, về dự án phân công trách nhiệm cho các ngành, các cấp có liên quan về việc phục vụ công tác dầu mỏ và khí đốt trong cả nước; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các chương trình, kế hoạch về dự án phân công ấy.

(3) Tổ chức việc hợp tác với các cơ quan hữu quan ở nước ngoài trong lĩnh vực dầu mỏ và khí đốt theo đúng đường lối, nguyên tắc và các quy định hiện hành về quan hệ đối ngoại của Đảng và Chính phủ.

(4) Tổ chức thu thập, chỉnh lý và lưu trữ toàn bộ hồ sơ, tài liệu về lĩnh vực công tác dầu mỏ và khí đốt trong cả nước.

(5) Quản lý công tác tổ chức, cán bộ, tài sản, tài vụ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân của Tổng cục Dầu khí Việt Nam theo các quy định hiện hành.

Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dầu khí Việt Nam gồm có:

– Các cơ quan quản lý sản xuất, kinh doanh:

 + Công ty Dầu khí miền Bắc Việt Nam.

 + Công ty Dầu khí miền Nam Việt Nam.

 + Một số đơn vị, xí nghiệp sản xuất thuộc diện quản lý của Tổng cục.

– Các cơ quan sự nghiệp và quản lý nhà nước:

 + Vụ Kế hoạch – Lao động và Vật tư.

 + Vụ Kinh tế – Kỹ thuật và Hợp tác quốc tế

 + Vụ Tài vụ – Kế toán – Thống kê.

 + Vụ Tổ chức cán bộ và đào tạo.

 + Viện Dầu khí Việt Nam.

 + Cục Xây dựng cơ bản.

 + Văn phòng.

 + Các trường đào tạo cán bộ, công nhân dầu khí thuộc diện quản lý của Tổng cục.

 + Phòng Bảo vệ chính trị (Phòng trực thuộc Tổng cục).

Việc thành lập, sửa đổi, bãi bỏ các Cục, Vụ và tổ chức tương đương của Tổng cục do Hội đồng Chính phủ quyết định theo đề nghị của đồng chí Tổng cục trưởng.

Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của mỗi tổ chức trong Tổng cục do đồng chí Tổng cục trưởng quyết định.

Các Vụ cần tổ chức gọn nhẹ, có Vụ trưởng phụ trách, có thể có Vụ phó giúp việc; Vụ nói chung không có phòng.

Để bộ máy của Tổng cục Dầu khí có thể hoạt động được ngay, Tổng cục Địa chất, Tổng cục Hóa chất và tổ chức dầu khí hiện có ở miền Nam Việt Nam phải chuyển giao cho Tổng cục Dầu khí các tổ chức, cán bộ, công nhân đang làm về công tác dầu mỏ và khí đốt cùng với những hồ sơ, tài liệu, tài sản, thiết bị, vật tư, tiền vốn và những cơ sở vật chất – kỹ thuật khác có liên quan. Việc bàn giao phải chu đáo, theo đúng các thủ tục hiện hành và hoàn thành trước ngày 31/10/1975”.

Ngày 8/9/1975, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất Nguyễn Văn Điệp gửi Văn bản số 967/ĐC-DK cho các đơn vị trong ngành địa chất, thông báo Nghị quyết của Đảng, Quyết nghị của Quốc hội và Nghị định của Chính phủ về việc thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam; đồng thời chỉ thị cho các đơn vị chuẩn bị để Tổng cục Địa chất tiến hành chuyển giao công việc và tổ chức lực lượng, tài sản, tài liệu địa chất dầu khí… sang Tổng cục Dầu khí được sớm và tốt; đồng thời có quan hệ hợp tác chặt chẽ và lâu dài với các đơn vị địa chất dầu khí trong lĩnh vực điều tra địa chất để cùng nhau làm tốt công việc điều tra thăm dò địa chất của cả nước.

Ngày 23/9/1975, Chính phủ ban hành Quyết định số 184/CP và Quyết định số 185/CP, bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Biên (lúc đó là Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, nguyên Tổng cục phó Tổng cục Hóa chất) giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam và ông Lê Văn Cự, Vụ trưởng Vụ Kỹ thuật Tổng cục Địa chất, giữ chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Biên (1923-1997)

Quê quán: thôn Công Đình, xã Đình Xuyên, Gia Lâm, Hà Nội.

Tham gia cách mạng từ tháng 3/1945, được kết nạp Đảng tháng 10/1945. Đã kinh qua nhiều chức vụ lãnh đạo trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như lãnh đạo các tổ chức khoa học và kinh tế (Bí thư Thị ủy Bắc Giang; Tỉnh ủy viên, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Bắc Giang; Ủy viên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước; Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hóa chất; Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước kiêm Viện trưởng Viện Phân vùng quy hoạch Trung ương (nay là Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư…).

Ông là Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí đầu tiên đã có công to lớn trong việc xây dựng nền móng của ngành Dầu khí Việt Nam. Với tầm hiểu biết sâu rộng, có phần đi trước thời đại, ông đã sớm quan tâm và có chủ trương, biện pháp để ngành Dầu khí non trẻ Việt Nam tiếp cận với công nghiệp và công nghệ dầu khí phương Tây, lựa chọn phương thức hợp tác và hình thức hợp đồng dầu khí. Từ tháng 10/1979, cho dù làm việc ở lĩnh vực khác và nghỉ hưu, ông vẫn luôn quan tâm đến ngành Dầu khí Việt Nam.

 

Ông Lê Văn Cự
Sinh năm 1930

Quê quán: Thành phố Hồ Chí Minh.

Tốt nghiệp Trường đại học Mỏ Pari năm 1955, tham gia Đảng Cộng sản Pháp năm 1951 (được chuyển sang Đảng Lao động Việt Nam năm 1958, nhưng tuổi Đảng được tính từ năm 1951). Tháng 9/1955 ông về nước, công tác ở Tổng cục Địa chất, đã kinh qua nhiều chức vụ. Từ năm 1962 đến năm 1975 là Vụ trưởng kiêm Chánh Địa chất – Tổng cục Địa chất. Từ tháng 9/1975 đến tháng 4/1988 là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Trong thời gian từ tháng 11/1975 đến tháng 7/1977 kiêm chức Giám đốc Công ty Dầu khí Nam Việt Nam. Từ tháng 5/1988 đến tháng 4/1989 là Cố vấn Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Từ tháng 5/1989 đến tháng 6/1996, ông chuyển về công tác ở Thành phố Hồ Chí Minh (Cố vấn cho Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế đối ngoại của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc Thường trực và sau là Tổng Giám đốc Khu Chế xuất Sài Gòn). Ông là đại biểu Quốc hội khoá III, VI.

Tiến sĩ Lê Văn Cự còn là Đại diện thường trực của Việt Nam tại tổ chức Ủy ban Điều phối các chương trình địa chất ngoài khơi và đới duyên hải khu vực Đông và Đông Nam Á (Coordinating Committee for Coastal and Offshore Geoscience Programmes in East and Southeast Asia – CCOP).

Ông đã có nhiều công lao đóng góp về điều tra khoáng sản trong ngành Địa chất và về công tác nghiên cứu khoa học công nghệ trong ngành Dầu khí (Chủ nhiệm Chương trình khoa học kỹ thuật cấp Nhà nước về dầu khí mã số 22.01 giai đoạn 1980-1985).

Ông đã được khen thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Nhì và nhiều Huy chương cao quý khác.

Để tăng cường chỉ đạo, năm 1976 Chính phủ đã bổ nhiệm Trung tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) làm Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí. Đến năm 1978, Bộ trưởng Đinh Đức Thiện kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng Tổng cục Dầu khí(1).

Ông Đinh Đức Thiện (1913-1987)

Tên thật là Phan Đình Dinh.

Quê quán: Nam Vân, Nam Trực, Nam Định.

Hoạt động cách mạng từ năm 1930, kết nạp Đảng năm 1939. Kinh qua nhiều chức vụ cao cấp trong Đảng và Chính phủ (Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng…, Bộ trưởng Bộ Cơ khí luyện kim, Bộ trưởng phụ trách dầu khí kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng Tổng cục Dầu khí, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải…).

Ông có nhiều công lao trong quân đội (nhất là trong lĩnh vực hậu cần) thời kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, cũng như trong xây dựng và phát triển kinh tế. Ông đã được khen thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác.

Ông phụ trách công tác dầu khí từ năm 1976, có những đóng góp to lớn về chủ trương hợp tác dầu khí với nước ngoài, tạo tiền đề cho xây dựng cơ sở hạ tầng của ngành Dầu khí, đã để lại những dấu ấn mang “cá tính Đinh Đức Thiện” trong lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam.

Ngoài ra, Chính phủ còn điều động và bổ nhiệm các đại tá: Phan Tử Quang (Cục trưởng Cục Xăng dầu – Tổng cục Hậu cần), Đặng Quốc Tuyển (Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng kinh tế kiêm Tư lệnh Binh đoàn 14), Phạm Văn Diêu (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng kinh tế Bộ Quốc phòng)(2); và ông Chu Đỗ – Chuyên viên 9 (Chuyên viên cao cấp) Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng(3) làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí.

Ông Phan Tử Quang
Sinh năm 1924

Quê quán: Đức Tùng, Đức Thọ, Hà Tĩnh.

Đại tá Phan Tử Quang kinh qua nhiều chức vụ quan trọng: Phó Giám đốc Nha Công an Trung Bộ, Cục trưởng Cục Xăng dầu – Tổng cục Hậu cần – Bộ Quốc phòng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam.

Ông đã có công lớn trong việc xây dựng tuyến đường ống xăng dầu huyền thoại Trường Sơn.

Trong ngành Dầu khí, ông đã làm việc không biết mệt mỏi để chỉ đạo sản xuất trong Nam ngoài Bắc. Ông đã góp phần to lớn trong việc cải tiến tiêu chuẩn, chế độ, đời sống cho người lao động trong ngành Dầu khí.

Ông đã được khen thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác.

 

 

Ông Đặng Quốc Tuyển (1918-1995)

Quê quán: Xuân Trường, Xuân Thuỷ, Nam Định.

Đại tá Đặng Quốc Tuyển tham gia cách mạng từ năm 1944, kinh qua nhiều chức vụ cao cấp trong quân đội: Phó Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương, Phó Tư lệnh mặt trận B5, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng kinh tế kiêm Cục trưởng Cục Nông lâm, sau đó kiêm Tư lệnh Binh đoàn 14, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam.

Ông đã có công lớn trong việc chỉ đạo Binh đoàn 318 tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành Dầu khí và trực tiếp chỉ đạo Công ty phục vụ đời sống tăng gia sản xuất, chăn nuôi gia súc, góp phần khắc phục khó khăn trong đời sống của cán bộ, công nhân viên ngành Dầu khí.

Ông đã được khen thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác.

 

Ông Phạm Văn Diêu (1921-1995)

Quê quán: Nghĩa Lộ, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.

Đại tá Phạm Văn Diêu đã kinh qua nhiều chức vụ cấp cao trong quân đội: Tham mưu trưởng Công binh Đoàn 559, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Công binh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng kinh tế Bộ Quốc phòng và sau này là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí.

Ông phụ trách công tác xây dựng cơ bản của Tổng cục Dầu khí, đã có công lớn trong việc chỉ đạo xây dựng cầu đường phục vụ xây lắp các giàn khoan trên đất liền, xây dựng Căn cứ dịch vụ trên bờ ở Vũng Tàu cũng như chuẩn bị xây dựng Nhà máy lọc dầu ở Thành Tuy Hạ – Đồng Nai.

Ông đã được khen thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác.

Về cơ bản cơ quan Tổng cục Dầu khí được tổ chức theo Nghị định số 170/CP: Văn phòng (Chánh và Phó Văn phòng gồm các ông Lê Quốc Tuân và Nguyễn Ngọc Liên); Vụ Tổ chức cán bộ và đào tạo (ông Trần Ngôn Hoạt – Vụ trưởng); Vụ Kinh tế – Kỹ thuật và Hợp tác quốc tế (ông Lê Quốc Tuân – Chánh Văn phòng kiêm phụ trách Vụ, ông Nguyễn Đông Hải – Phó Vụ trưởng); Vụ Kế hoạch – Lao động và Vật tư (ông Phan Minh Bích – Phó Vụ trưởng phụ trách, ông Nguyễn Quang Hạp – Phó Vụ trưởng, sau này có ông Nông Tác Lâm là Vụ trưởng), Vụ Tài vụ – Kế toán – Thống kê (các ông Đặng Đình Cần, Công Đức Vãng – Phó Vụ trưởng, sau này có ông Hồ Tế là Vụ trưởng); Cục Xây dựng cơ bản (ông Dương Quang Thành – Phó Cục trưởng phụ trách, ông Vũ Bột – Phó Cục trưởng); Viện Dầu khí vẫn chưa được chính thức thành lập (mặc dù đã có ông Nguyễn Giao là Phó Viện trưởng phụ trách, ông Hồ Đắc Hoài – Phó Viện trưởng. Phải đến tháng 5/1978, Viện Dầu khí mới chính thức đi vào hoạt động)(4). Ngoài ra, Tổng cục Dầu khí đã thành lập Phòng Thông tin tư liệu(5), Phòng Nghiên cứu kỹ thuật khai thác dầu khí, Phòng Quản lý vật tư, Phòng Cơ khí (theo các quyết định số: 71/QĐ-DKTC, 72/QĐ-DK-TC và 73/QĐ-DK-TC ngày 12/3/1977).

Sau khi Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam (Petrovietnam) được thành lập theo Quyết định số 251/CP ngày 9/9/1977 của Chính phủ, đến ngày 16/11/1977 Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên đã có tờ trình bằng Văn bản số 2444/DK-TCCB gửi Chính phủ về tổ chức bộ máy quản lý ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam, thể hiện tầm nhìn khá xa và tiếp cận với thông tin công nghiệp Dầu khí thế giới. Nội dung Văn bản nêu rõ:

“1. Ngành Dầu khí là ngành công nghiệp hiện đại, cần được tổ chức theo một chu trình khép kín từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến lọc hóa dầu, vận chuyển và phân phối sản phẩm.

2. Cần có các tổ chức sớm để đón đầu và những tổ chức quá độ; trước mắt chưa phụ trách khâu phân phối, song có thể nhận khâu thiết kế, vận chuyển, đường ống, kho cảng.

3. Kết hợp tổ chức quản lý tập trung cao ở Tổng cục với tổ chức một số công ty khu vực: Công ty Dầu khí Bắc, Công ty Dầu khí Nam, Đoàn Dầu khí Đồng bằng sông Cửu Long.

4. Tiến tới tổ chức các công ty dịch vụ kỹ thuật chuyên môn hoá, trước mắt tổ chức ngay Công ty Địa vật lý dầu khí.

5. Cần có hệ thống tổ chức xây dựng cơ bản hoàn chỉnh và mạnh từ khâu khảo sát thiết kế tới xây lắp, có 2 Ban kiến thiết các nhà máy lọc hóa dầu.

6. Nên có những hình thức tổ chức làm việc với nước ngoài: Công ty Dầu khí Quốc gia Việt Nam; các ban điều hành hỗn hợp Việt Nam và nước ngoài; các công ty dịch vụ làm ăn với các công ty nước ngoài; tiến tới sẽ có các công ty hỗn hợp với nước ngoài; các tổ chức đại diện của Petrovietnam ở nước ngoài.

7. Khâu then chốt để phát triển tiến tới tự lực là hệ thống đào tạo cán bộ, công nhân; hệ thống viện kỹ thuật và các đoàn, trạm nghiên cứu, phòng thí nghiệm; hệ thống các nhà máy cơ khí”.

Ngày 25/1/1978, Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên có tờ trình bằng Văn bản số 128/DK-TCCB gửi Chính phủ về việc đề nghị bổ sung, sửa đổi tổ chức bộ máy của Tổng cục. Nội dung Văn bản nêu rõ:

“1. Các tổ chức sản xuất, kinh doanh, xây dựng cơ bản, xin thành lập thêm: a) Công ty Địa vật lý dầu khí Việt Nam; b) Công ty Vật tư vận tải dầu khí; c) Công ty Xây lắp dầu khí; d) Viện Thiết kế dầu khí; đ) Trạm máy tính địa vật lý.

2. Các tổ chức nghiên cứu đào tạo: Viện Dầu khí Việt Nam gồm hệ thống các viện, phân viện chuyên ngành, các đoàn đội địa chất chuyên đề và các cơ sở nghiên cứu thực nghiệm gắn liền với các đơn vị sản xuất.

3. Các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước: a) Xin tách Vụ Kế hoạch – Lao động và Vật tư thành: Vụ Kế hoạch, Vụ Lao động và tiền lương, Công ty Vật tư vận tải dầu khí; b) Xin tách Vụ Kinh tế – Kỹ thuật và Hợp tác quốc tế thành: Vụ Quan hệ đối ngoại, Vụ Kỹ thuật, Trung tâm thông tin tư liệu dầu khí; c) Cho thành lập Cục Bảo vệ và Phòng hỏa thay thế Phòng Bảo vệ đã có trong Nghị định số 170/CP và cho thành lập Cục Cơ điện”.

Ngày 2/3/1978, Chính phủ đã có những điều chỉnh về tổ chức của Tổng cục Dầu khí trong Thông báo số 11/TB. Nội dung Thông báo nêu rõ: “Cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục về mặt quản lý nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh.

Ngoài những đơn vị đã được tổ chức theo Nghị định số 170/CP, nay thành lập: Công ty Dầu khí Việt Nam, có chi nhánh ở miền Nam; Công ty Vật tư vận tải dầu khí; Trạm Máy tính địa vật lý; Tổ chức Viện Dầu khí đảm nhiệm cả công tác nghiên cứu và công tác quản lý khoa học kỹ thuật, mà không tổ chức vụ kỹ thuật riêng; tách Vụ Kế hoạch – Lao động thành Vụ Kế hoạch bao gồm cả Thống kê và Vụ Lao động tiền lương; Vụ Quan hệ đối ngoại; Bộ phận Thông tin tư liệu; Cục Bảo vệ và Phòng hỏa thay cho Phòng Bảo vệ”.

Từ các văn bản trên của Tổng cục Dầu khí cũng như của Chính phủ, vấn đề quản lý kỹ thuật vẫn chưa tách thành một vụ riêng.

Ngày 23/6/1978, Chính phủ lại ban hành Quyết định số 150/CP về bổ sung và sửa đổi một số tổ chức của Tổng cục:

“1. Đổi tên Công ty Dầu khí Nam Việt Nam thành Chi nhánh miền Nam của Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam.

2. Tách Vụ Kế hoạch – Lao động và Vật tư hiện có thành 2 vụ: Vụ Kế hoạch (phụ trách công tác thống kê và kế hoạch vật tư), Vụ Lao động và tiền lương.

3. Tách phần hợp tác quốc tế trong Vụ Kinh tế – Kỹ thuật và Hợp tác quốc tế hiện có để thành lập thêm một vụ mới, lấy tên là Vụ Đối ngoại về dầu khí.

4. Thành lập mới: Cục Bảo vệ và Phòng hỏa dầu khí (trên cơ sở Phòng Bảo vệ chính trị hiện có) và Công ty Vật tư vận tải dầu khí”.

Như vậy, nếu theo Quyết định số 150/CP thì bắt đầu từ ngày 23/6/1978, Vụ Kinh tế – Kỹ thuật và Hợp tác quốc tế chỉ còn là Vụ Kinh tế – Kỹ thuật.

Về nhân sự, trong thời kỳ này Phó Cục trưởng phụ trách Cục Bảo vệ là các ông Lê Đông, Vũ Xuân Linh; Vụ trưởng Vụ Kế hoạch là ông Nông Tắc Lâm; Quyền Vụ trưởng phụ trách Vụ Lao động và tiền lương là ông Đỗ Ngọc Ngạn; Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế là ông Lê Quốc Tuân.

Trong năm 1979, tình hình trong nước và trên thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Đường lối, chủ trương về phát triển ngành Dầu khí, nhất là trong lĩnh vực hợp tác dầu khí với các nước trên thế giới đòi hỏi phải có sự điều chỉnh phù hợp. Chủ trương hợp tác toàn diện với Liên Xô trong đó có lĩnh vực dầu khí đã được định hình.

Ngành Dầu khí có sự thay đổi trong cấp lãnh đạo. Ngày 25/10/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 383/CP về việc ông Nguyễn Văn Biên thôi chức Tổng cục trưởng để giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và trực tiếp làm Viện trưởng Viện Phân vùng quy hoạch Trung ương.

Ngày 23/10/1979, ông Đinh Đức Thiện làm Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí kiêm chức Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí theo Quyết định số 953/NQ-NS-TW. Ngày 21/1/1980, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định ông Đinh Đức Thiện thôi giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí để làm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, đồng thời thay mặt Chính phủ phụ trách công tác dầu khí theo Quyết định số 1037/NQ-NS-TW. Ngày 27/2/1980, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 62/CP về việc ông Đinh Đức Thiện, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, thay mặt Chính phủ phụ trách công tác dầu khí, giao thông và điều hòa vận tải trong cả nước.

Ngày 3/4/1980, Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm Trung tướng Nguyễn Hòa, nguyên là Tư lệnh Quân đoàn I giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí(6), kiêm chức Tổng Giám đốc Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam(7); đồng thời kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng Tổng cục Dầu khí(8). Sau đó, ông Nguyễn Hòa còn được cử kiêm chức Phó Tổng Giám đốc thứ nhất Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro ở Vũng Tàu.

Ông Nguyễn Hòa
Sinh năm 1927

Quê quán: Hà Nội.

Tham gia cách mạng từ năm 1944, đã kinh qua nhiều chức vụ cao cấp trong Đảng và Nhà nước cũng như trong quân đội: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V, VI; Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn I, tức Binh đoàn Quyết Thắng; Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng Tổng cục Dầu khí; Đại biểu Quốc hội khoá VII, VIII; Quyền Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội.

Ông có nhiều chiến công trong chiến tranh chống thực dân Pháp, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và giải phóng miền Nam. Ông đã được khen thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác.

Ông là Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí từ năm 1980, đã có công lớn trong việc xây dựng và phát triển sự hợp tác dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô, trong việc tổ chức và hoạt động của Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro ở Vũng Tàu, sau này trở thành một đơn vị chủ lực của ngành Dầu khí Việt Nam.

Ông Chu Đỗ (1923-1997)

Quê quán: Vạn Phúc, quận Hà Đông, Hà Nội.

Tham gia cách mạng từ rất sớm. Ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ lãnh đạo: Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban hành chính, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hà Đông; Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp; Thứ trưởng Bộ Xây dựng; Chuyên viên cao cấp Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng; Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam.

Ông có công trong lĩnh vực xây dựng cơ bản của ngành Dầu khí Việt Nam, trực tiếp chỉ đạo tổ chức hình thành Xí nghiệp liên hiệp Xây lắp dầu khí.

Ông được khen thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác.

Sau khi Hiệp định hợp tác về thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam được ký ngày 3/7/1980 và Hiệp định thành lập Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt – Xô ngày 19/6/1981, Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 19/HĐBT ngày 6/8/1981 sửa đổi bộ máy tổ chức của Tổng cục Dầu khí Việt Nam, với nội dung:

(1) Đổi tên Vụ Đối ngoại về dầu khí thành Vụ Hợp tác quốc tế.

(2) Tách Vụ Kinh tế – Kỹ thuật(9) thành hai vụ:

– Vụ Địa chất dầu khí.

– Vụ Khoan và Khai thác.

(3) Thành lập Vụ Vật tư và Vận tải.

(4) Thành lập Công ty Địa vật lý trên cơ sở chuyển Đoàn Địa vật lý hiện có thành Công ty;

(5) Đổi tên Công ty Dầu khí miền Bắc Việt Nam thành Công ty Dầu khí số I;

(6) Giải thể Công ty Dầu khí miền Nam Việt Nam.

Thực hiện Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 10/9/1981, Tổng cục Dầu khí thành lập Vụ Vật tư và Vận tải(10), Vụ trưởng là ông Trần Xanh. Tách Vụ Kinh tế – Kỹ thuật thành Vụ Địa chất dầu khí, Vụ phó phụ trách là ông Nguyễn Giao; Vụ Khoan và Khai thác(11), Quyền Vụ trưởng là ông Trương Thiên, sau này ông Đặng Của là Vụ trưởng. Thành lập Phòng Khoa học kỹ thuật(12). Trước đó, ngày 29/8/1981, Tổng cục Dầu khí quyết định chuyển Ban Quân sự thành Vụ Động viên, gọi là Vụ 1 (13), Phó Vụ trưởng là ông Đoàn Ngọc Ánh(14). Vụ 1 giải thể ngày 19/10/1984(15), chức năng của Vụ 1 được chuyển cho Vụ Kế hoạch, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch là ông Nguyễn Quang Hạp.

Ngày 26/9/1981, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 169/CT chuyển một bộ phận của Tổng cục Dầu khí vào phía Nam, cụ thể như sau:

a) Vào Thành phố Hồ Chí Minh: Cơ quan Văn phòng Tổng cục và các Cục, Vụ gồm 93 người;

b) Vào Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo gồm: Công ty Đời sống: 15 người, Công ty Vật tư – vận tải: 40 người

Tổng cộng: 148 người.

Đồng thời cũng quyết định: Trụ sở của Tổng cục Dầu khí ở phía Nam đóng tại số 7 Mạc Đĩnh Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo giải quyết việc nhập hộ khẩu, cấp các tiêu chuẩn nhu yếu phẩm và sổ mua hàng cho cơ quan của Tổng cục Dầu khí với số lượng như trên.

Thực hiện Nghị quyết số 16/HĐBT về tinh giản biên chế hành chính nhà nước, cơ quan Tổng cục từ 350 người (năm 1981) giảm còn 280 người(16).

Ngày 17/12/1982, ông Trương Thiên và ông Bùi Hải Ninh được bổ nhiệm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí theo Quyết định số 344/CT.

Ngày 21/9/1984, Tổng cục thành lập Ban Nghiên cứu dầu khí biển(17), thành lập Vụ Khoa học – kỹ thuật(18), chuyển nhiệm vụ quản lý khoa học kỹ thuật của Vụ Địa chất dầu khí cho Vụ Khoa học – kỹ thuật(19), giải thể Vụ Vật tư và Vận tải và chức năng của nó được chuyển giao cho Vụ Kế hoạch(20), thành lập Ban Thanh tra(21). Ngày 1/12/1984, chuyển Cục Bảo vệ thành Ban An ninh kinh tế(22), nhưng đến ngày 20/8/1985, Ban An ninh kinh tế lại chuyển thành Cục Bảo vệ dầu khí theo Quyết định số 956/TC.

Phó Cục trưởng phụ trách Cục Bảo vệ là các ông Nguyễn Vĩ Chí, Nguyễn Văn Thái. Thời kỳ này ông Trần Hồng Trang là Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, ông Đỗ Ngọc Ngạn là Vụ trưởng Vụ Lao động và tiền lương, ông Trần Xanh là Chánh Văn phòng, ông Trần Ngọc Toản là Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Khoa học kỹ thuật.

Ngày 10/1/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 06/HĐBT, với nội dung: “Bộ máy giúp việc Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực công tác gồm có Văn phòng và 11 vụ (Vụ Kế hoạch, Vụ Khoa học – kỹ thuật, Vụ Tài chính – Kế toán, Vụ Lao động và tiền lương, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Xây dựng cơ bản, Vụ Hợp tác quốc tế, Ban Thanh tra, Vụ Địa chất địa vật lý dầu khí, Vụ Khoan và Khai thác dầu khí, Vụ Cơ điện và Thiết bị dầu khí). Chức năng, nhiệm vụ và biên chế của các Vụ được giao cho Tổng cục trưởng quy định”.

Ngày 19/5/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 130/CT về thành lập Tiểu ban Nghiên cứu thẩm định Đề án tìm kiếm, thăm dò dầu khí vùng cửa sông Hồng vịnh Bắc Bộ, Tổng cục Dầu khí là một trong các thành viên chủ chốt đã giao nhiệm vụ cho Công ty Dầu khí I (Thái Bình) triển khai đề án. Nhằm tiếp tục hoàn thiện về tổ chức bộ máy, Tổng cục Dầu khí quyết định sáp nhập Vụ Khoa học – Kỹ thuật và Vụ Địa chất địa vật lý dầu khí thành Vụ Khoa học – Kỹ thuật dầu khí(23).

Tháng 6/1987, Tổng cục Dầu khí quyết định sáp nhập Vụ Khoan và Khai thác dầu khí và Vụ Cơ điện và Thiết bị dầu khí thành Vụ Khoan – Khai thác và Thiết bị dầu khí(24), đổi tên Phân viện Dầu khí phía Nam của Viện Dầu khí thành Phân viện Lọc hoá dầu trực thuộc Tổng cục.

Ngày 8/3/1988, Tổng cục trưởng Nguyễn Hòa trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phương án sắp xếp lại bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế và tinh giản biên chế của Tổng cục Dầu khí, trọng tâm là sắp xếp lại số Vụ/Văn phòng giảm từ 11 xuống còn 8 và biên chế từ 263 người còn 150 người (Văn phòng từ 127 người giảm còn 60 người), đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt.

Về nhân sự, thời kỳ này Chánh Văn phòng là các ông Đỗ Quang Toàn (năm 1987), Doãn Tiến Dũng (năm 1989); Vụ trưởng Vụ Kế hoạch là ông Nguyễn Quang Hạp; Vụ trưởng Vụ Tổ chức – Lao động là ông Ngô Mạnh Khởi; Vụ trưởng Vụ Tài chính – Kế toán là ông Công Đức Vãng; Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế là các ông: Đào Duy Chữ (năm 1987), Đỗ Quang Toàn (năm 1989); Vụ trưởng Vụ Xây dựng cơ bản là ông Nguyễn Sâm; Vụ trưởng Vụ Khoa học – Kỹ thuật là các ông: Nguyễn Hiệp (năm 1986), Nguyễn Trí Liễn (năm 1989). Cục trưởng Cục Bảo vệ là ông Phan Trọng Việt.

Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Petrovietnam lại bắt đầu tiếp xúc với các công ty dầu khí thế giới. Để tránh phản ứng của Liên Xô, đồng thời cũng mở rộng quan hệ quốc tế Nam – Nam, Ấn Độ là nước được lãnh đạo Đảng và Chính phủ chọn làm bước đột phá.

Ngày 11/4/1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 100/CT về việc thay đổi nhân sự của Tổng cục Dầu khí:

“- Ông Nguyễn Hòa thôi giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí để nhận nhiệm vụ khác.

– Ông Trương Thiên giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí.

– Ông Nguyễn Hiệp, Vụ trưởng Vụ Khoa học – Kỹ thuật giữ chức Phó Tổng cục trưởng.

– Ông Lê Văn Cự thôi giữ chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí để làm công tác nghiên cứu khoa học”.

Ông Trương Thiên (1933-2008)

Quê quán: Nhơn Phong, An Nhơn, Bình Định.

Năm 1955 học khoá Chuyên viên Địa chất, sau đó công tác ở Đoàn Địa chất I Apatit Lào Cai. Năm 1957 tham gia dạy lớp Sơ cấp địa chất, khoan. Năm 1961 là Phó Trưởng phòng Kỹ thuật công trình, Vụ Kế hoạch – Kỹ thuật, Tổng cục Địa chất. Từ năm 1963 đến năm 1972 học đại học và nghiên cứu sinh ở Liên Xô và là tiến sĩ, Trưởng phòng Dầu khí của Tổng cục Địa chất.

Sau khi Tổng cục Dầu khí được thành lập (năm 1975), ông làm Phó Giám đốc Công ty Dầu khí Nam Việt Nam. Năm 1979 làm Phó Giám đốc Công ty Dầu khí I (Thái Bình). Năm 1980 là Quyền Vụ trưởng Vụ Khoan và Khai thác dầu khí Tổng cục Dầu khí. Năm 1982 được đề bạt Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí và kiêm Giám đốc Công ty Dầu khí I (năm 1984). Tháng 4/1988, ông được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí. Năm 1990, sau khi Tổng cục Dầu khí sáp nhập vào Bộ Công nghiệp nặng, ông giữ chức Thứ trưởng, sau đó chuyển về làm Tổng Giám đốc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Năm 1992 là Trợ lý Thủ tướng Chính phủ về công tác dầu khí. Năm 1995 là Uỷ viên Hội đồng Quản trị Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Ông nghỉ hưu năm 1998.

Ông đã có công trong việc tổ chức xây dựng bản chiến lược đầu tiên của ngành Dầu khí Việt Nam (tháng 4/1988), làm cơ sở để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 7/7/1988 về phương hướng phát triển ngành Dầu khí đến năm 2000, mở đường cho sự hợp tác đa phương của ngành Dầu khí Việt Nam với dầu khí thế giới; cũng như trong quá trình đàm phán sửa đổi Hiệp định hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí đã ký với Liên Xô năm 1981.

Ông đã được khen thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Huân chương Hữu nghị của Liên bang Nga và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác. Năm 2009, ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Chú thích:

(1) Quyết định số 465/NQ-NS-TW ngày 13/6/1978.

(2) Quyết định số 649/NQ-NS-TW ngày 29/10/1978.

(3) Quyết định số 291/CT ngày 3/11/1982.

(4) Theo Văn bản 24/DK-TC ngày 28/1/1979 của Tổng cục Dầu khí gửi Ban Tổ chức Chính phủ.

(5) Trước đây là Phòng Thông tin – Tư liệu kinh tế kỹ thuật trực thuộc Vụ Kinh tế – Kỹ thuật và Hợp tác quốc tế theo Quyết định số 473/TCDK-TC ngày 30/12/1975; sau này trực thuộc Tổng cục Dầu khí theo Quyết định số 24/DK-TC ngày 28/1/1977.

(6) Quyết định số 107/CP.

(7) Quyết định số 203/CP ngày 1/7/1980.

(8) Quyết định số 1144/NQ-NS-TW.

(9) Căn cứ vào các Quyết định của Chính phủ, có thể thấy rằng Vụ Kinh tế – Kỹ thuật tồn tại từ ngày 23/6/1978 (Quyết định số 150/CP) đến ngày 6/8/1981 (Quyết định số 19/HĐBT), nhưng ở Tổng cục Dầu khí Việt Nam, trong các văn bản đều viết là Vụ Kỹ thuật và tại Văn bản số 949/DK-TCCB ngày 16/6/1979 Bộ trưởng Đinh Đức Thiện duyệt cơ cấu tổ chức và biên chế Vụ Kỹ thuật tìm kiếm, thăm dò (T.G).

(10) Quyết định số 1199/DK-TC.

(11) Quyết định số 1200/DK-TC.

(12) Quyết định số 1201/DK-TC.

(13) Quyết định số 1144/DK-TC.

(14) Quyết định số 1512/TCCB, ngày 22/10/1981.

(15) Quyết định số 1167/DK-TC.

(16) Văn bản số 1062/DK-TC gửi Ban Tổ chức Chính phủ ngày 13/8/1982.

(17) Quyết định số 1446/QĐ-TC.

(18) Quyết định số 1168/DK-TC ngày 19/10/1984.

(19) Quyết định số 1698/DK-TC ngày 14/11/1984.

(20) Quyết định số 1598/DK-TC ngày 27/10/1984.

(21) Quyết định số 1699/TC-DK ngày 14/11/1984.

(22) Quyết định số 1832/TC-DK.

(23) Quyết định số 1684/QĐ-TC ngày 31/10/1986.

(24) Quyết định số 1004/TC ngày 27/6/1987.

Theo Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam – Tập I

(Còn tiếp…)