Những hoạt động và tổ chức dầu khí đầu tiên ở Việt Nam (Hoạt động thăm dò địa chất và dầu khí ở Việt Nam trước năm 1945)

Dầu mỏ và sản phẩm dầu với xã hội Việt Nam (Kỳ 1)

Hoạt động liên quan đến địa chất, thăm dò, khai khoáng, chế biến và sử dụng tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ thời nguyên thuỷ, trong những phạm vi và trình độ khác nhau, đã được ghi nhận qua nhiều di tích khảo cổ và sử liệu.
Cách đây khoảng 6.000 năm đến 5.000 năm, cư dân sống trên lãnh thổ Việt Nam đã có kỹ thuật chế tác đá và làm đồ gốm khá phát triển. Phần lớn các bộ lạc đã biết trồng lúa. Khoảng 4.000 năm trước các bộ lạc sống ở lưu vực sông Hồng đã biết sử dụng một loại nguyên liệu mới là đồng và có kỹ thuật luyện kim đồng thau. Thời đại kim khí thời Hùng Vương phát triển qua các giai đoạn đồ đồng, đồng thau, rực rỡ nhất là văn hoá Đông Sơn có những trống đồng nổi tiếng. Vào các triều đại phong kiến Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê… đến triều Nguyễn, tuy nhiều năm phải chống ngoại xâm, nhưng việc khai thác và sử dụng tài nguyên vẫn được phát triển.
Trên thế giới, cách đây trên 5.000 năm, người dân ở Trung Đông đã biết khai thác bitum ở Hit, trên sông Ơphrết, cách Babilon không xa (nay là thành phố Bátđa, Irắc), để làm vữa xây tường, làm đường, trét thuyền để chống thấm nước, được đốt để chiếu sáng (nhưng không tốt vì không sáng lắm mà lại nhiều khói và mùi khó chịu); nhưng lại phát huy tác dụng làm chất cháy dùng trong chiến tranh. Ngoài ra, bitum còn được dùng làm thuốc chữa một số bệnh (chống chảy máu, làm liền các vết thương, làm dầu xoa bóp…)(1).

Hồ hắc ín Trinidad.

Ở châu Âu, người dân phát hiện khí cháy ở Salsomaggiore – Italia năm 1226, dầu ở Andát – Pháp năm 1498 và “dầu đất – earth balsam” – Ba Lan năm 1506. Còn Marco Polo đã ghi chép về “suối dầu” ở Bacu vào cuối thế kỷ XIII. Ở châu Mỹ, năm 1595, Raleigh đã nói về hồ hắc ín Trinidad; năm 1632, Fransiscan đã thăm “suối dầu” ở Niu Oóc. Ở châu Á, khi khoan tìm muối, người Trung Quốc đã phát hiện dầu từ 1.700 năm trước đây; còn người Mianma đã sử dụng dầu từ rất sớm và biết khai thác dầu bằng các giếng đào thủ công vào cuối thế kỷ XVIII, sản lượng hàng năm đạt tới 250.000 thùng (33.333 tấn), nhiều hơn lượng dầu khai thác ở vùng Côcadơ (Liên bang Nga), Rumani, Ba Lan, Đức vào thời đó(2).

Giàn khoan thời xưa của Trung Quốc.

Năm 1859, Đại tá Edwin Drake sử dụng kỹ thuật khoan tìm muối của Trung Quốc, khoan sâu 21 m đã phát hiện dầu ở Oil CreekTitusville-Pennsylvania (Mỹ), đồng thời cũng đã mở đầu cho sự ra đời của nền công nghiệp dầu khí hiện đại.

Giếng khoan dầu đầu tiên trên thế giới do Edwin Drake khoan năm 1859 tại Pennsylvania (Mỹ).

Sản lượng đỉnh khai thác dầu năm 1900 là 0,4 triệu thùng/ngày (khoảng 53.000 tấn/ngày), năm 1940 là 6 triệu thùng/ ngày (khoảng 0,8 triệu tấn/ngày), năm 1950 là 11 triệu thùng/ngày (khoảng 1,33 triệu tấn/ngày), năm 1960 là 22 triệu thùng/ ngày (khoảng 2,66 triệu tấn/ngày).

Vào những năm 50 của thế kỷ XIX, ở Mỹ, luật sư George Bissell và chủ tịch ngân hàng James Townsend cho rằng từ dầu mỏ có thể chế biến thành dầu thắp sáng, đã cộng tác với J. Benjamin Silliman – giáo sư hoá học tại Trường đại học Yale, người đã thành công trong việc chưng cất dầu mỏ thành nhiều sản phẩm khác nhau. Năm 1854, tiến sĩ Abraham Gesner nộp đơn xin cấp bằng sáng chế của Mỹ cho việc sản xuất “một chất lỏng hydrocarbon mới mà tôi đặt tên là dầu lửa (keosene) và có thể dùng thắp sáng và cho các mục đích khác”. Năm 1894, Gesner nộp đơn xin cấp bằng sáng chế “Phương thức mới sản xuất chất lỏng hydrocarbongọi tắt là dầu lửa) và sử dụng cho quá trình thắp sáng và các mục đích khác”. Gesner tham gia thành lập một nhà máy sản xuất dầu lửa ở Niu Oóc. Năm 1859, nhà máy này đã sản xuất được 5.000 gallon (14.000 lít) dầu mỗi ngày(3).

 

Năm 1860, trên thế giới có 15 nhà máy lọc dầu, đến năm 1865 đã tăng lên đến 194 nhà máy, chủ yếu sản xuất ra naphtha, dầu hoả và dầu cặn (Naphtha-xăng, không biết sử dụng làm gì, phải đổ đi! Vì lúc đó chưa phát minh ra động cơ đốt trong, chủ yếu là động cơ hơi nước)(4).

Chỉ sau khi phát minh ra động cơ đốt trong, nhất là khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), nhu cầu xăng, diesel, dầu mỡ tăng mạnh. Đến giữa thế kỷ XX, công nghiệp chế biến dầu khí đã phát triển rất mạnh, sản phẩm lọc dầu và hóa dầu đã chiếm tỷ trọng lớn trên thế giới, khẳng định nhân loại đã bước vào thời đại dầu khí.

Chú thích:

(1) Daniel Yergin: Dầu mỏ, tiền bạc và quyền lực, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 41-42.

(2) The Petroleum Handbook. Elsevier. 1983, tr.3, 4, 36.

(3) Daniel Yergin: Dầu mỏ, tiền bạc và quyền lực, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 35, 41, 42.

(4) Theo http://www.pafko.com/history/h_petro.html.

Theo Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam – Tập I

(Còn tiếp…)